Đặc điểm sinh học và các yếu tố kỹ thuật nuôi Ngao
9:8' 2/8/2012
Ảnh minh họa/Internet


    I. Đặc điểm sinh học:

    Họ Ngao có 40 loài thuộc 7 nhóm giống phân bố dọc bờ biển từ Bắc vào Nam.

Vùng ven biển phía Bắc có Ngao dầu, Ngao mật, vùng ven biển phía Nam có Nghêu. Ngao và Nghêu là nhóm nhuyễn thể có tiềm năng lớn ở vùng triều nước ta, kỹ thuật nuôi không phức tạp, chu kỳ nuôi ngắn, đầu tư ít lại có giá trị xuất khẩu. Nuôi Ngao, Nghêu (sau đây gọi tắt là Ngao) còn là biện pháp tích cực bảo vệ nguồn lợi này và làm sạch môi trường đáy vùng triều.

    1. Phân bố:

    Ngao phân bố trên các bãi triều, trong các eo vịnh có đáy là cát pha bùn ( cát chiếm 70-80%), sóng gió nhẹ, có lượng nước ngọt nhất định chảy vào. Nếu đáy nhiều bùn, Ngao dễ bị chết ngạt, nếu đáy cát (100%) Ngao bị khô nóng.

    Ngao là loài nhuyễn thể sống rộng nhiệt, thích nghi được nhiệt độ từ 5 đến 350C, ở khoảng 18-300C Ngao sinh trưởng tốt nhất. Giới hạn chịu nhiệt của Ngao là 430C, Ngao chết 50% ở nhiệt độ 440C và chết toàn bộ ở nhiệt độ 450C, ở nhiệt độ -2 đến -30C, Ngao chỉ chết khoảng 10% trong 3 tuần.

     2. Đặc điểm sinh học của Ngao:

    - Ngao là loài sống đáy, chân phát triển để đào cát vùi mình xuống dưới, để hô hấp và kiếm mồi, Ngao thò vòi nước lên mặt bãi tạo thành một lỗ hình bầu dục ( từ lỗ này biết được chỗ ở của Ngao) , tuy nhiên do vòi rất ngắn nên Ngao không thể chui sâu vào cát mà thước nằm sâu dưới mặt cát vài cm, khi trời lạnh, Ngao chui xuống sâu hơn, song không quá 10 cm.

    - Trong quá trình sinh trưởng, khi gặp môi trường không thích hợp, Ngao thường di chuyển đến vùng bãi khác bằng cách tiết ra một túi nhầy hoặc một giải chất nhầy làm giảm nhẹ tỷ trọng cơ thể và nổi lên trong nước theo dòng triều di chuyển đi nơi khác.

    - Ngao là loài ăn lọc, phương thức bắt mồi bị động, khi triều lên Ngao thò vòi lên mặt cát hút nước để lọc mồi ăn. Thức ăn của Ngao chủ yếu là các loại Tảo, các mảnh vụn và chất vẩn cặn hữu cơ trong nước. Ngao ăn mạnh vào khoảng từ tháng 2 đến tháng 5, các tháng mùa lũ và sau lũ, Ngao ngậm vỏ không ăn trong một thời gian dài. Ngao có độ béo  cao nhất vào tháng 4-6, thấp nhất vào tháng 10-12.

    - Ngao và Nghêu là loài phân tính đực, cái riêng, mùa đẻ của Ngao là hè-thu, Nghêu đẻ quanh năm, song mùa sinh sản chính từ tháng 4-6, mùa phụ tháng 11-12. Ngao 1 năm tuổi đã sinh sản tốt. Ngao, Nghêu đẻ từng đợt cách nhau nửa tháng, có khi một tháng, mỗi đợt kéo dài khoảng 1 giờ.

    - Trong điều kiện thuận lợi, từ trứng đến Ngao “cám” (25.000 con/kg) là 2 tháng, từ Ngao “cám” đến Ngao “tấm” (loại 10.000 con/kg) 2 tháng, từ Ngao “tấm” đến Ngao “cúc” (loại 800-1.000con/kg) là 3 - 5 tháng trở thành Ngao giống đạt tiêu chuẩn chuyển sang nuôi thương phẩm, từ Ngao giống đến Ngao thịt (cỡ 50 con/kg) qua 10-11 tháng nữa. Ngao lớn nhanh vào tháng 4-9 và thời gian đầu, sau đó chậm dần.

    II.  Các yếu tố kỹ thuật nuôi Ngao:

    1. Khai thác giống tự nhiên:

    -  Ngao giống sau khi hình thành vỏ rơi xuống đáy phân bố ở các triền sông và bị dòng triều cuốn ra phân bố trên dải cát thấp dọc bờ biển. Ngao sinh sản vào đầu mùa mưa ( khoảng tháng 4) đến tháng 5 sẽ thành Ngao “ cám” nhỏ bằng nửa hạt gạo (1mm), có thể khai thác giống đưa vào bãi ương.

    - Thời gian khai thác trong các tháng 5, 6, 7.

    - Phương pháp khai thác giống bằng cào lưới thủ công với mặt lưới thích hợp để thu bặt Ngao “cám”: dùng cào gắn lưới nạo sâu xuống mặt cát khoảng 2-3 cm, cát lọt qua lưới, giống được giữ lại bên trong lưới, Ngao giống thu được sẽ đồng đều, ương nuôi đạt hiệu quả và chất lượng cao.

    - Giống được đóng trong bao thấm nước, không quá 10kg/bao, nên vận chuyển vào ban đêm bằng phương tiện thuỷ, tránh mưa, thời gian từ lúc thu giống đến khi thả ương không quá 12-16 giờ.

    2. Nuôi Ngao thịt:

    - Chọn bãi nuôi: Bãi nuôi có nền đáy là cát bùn hoặc cát - cát bùn, hơi xốp, tương đối bằng phẳng, ít dốc ở vùng trung và hạ triều.

    - Trước khi thả giống dùng cọc tre (gỗ ) cắm xung quanh vùng nuôi  khoảng cách 4 đến 6 m/cọc căng lưới có chiều cao 0,6 - 0,7 m trên mặt bãi và vùi sâu 0,2 đến 0,3 m dưới bãi để bảo vệ Ngao giống . Mắt lưới tuỳ thuộc vào cỡ giống trước khi thả và sau 2 đến 3 tháng, Ngao phát triển ổn định có thể thu hoặc vùi lưới xuống mặt cát, căng dây cuối đường triều rút để giữ Ngao không cho di chuyển ra khỏi vây nuôi.

    - Nuôi Ngao thịt có nhiều giai đoạn: sau giai đoạn thu Ngao “ cám” tự nhiên ương nuôi 2 đến 3 tháng thành Ngao “ tấm” (giai đoạn 1) được người nuôi mua hoặc thu bắt từ bãi ương ra thả ở vây nuôi Ngao thịt sau 4-5 tháng thành Ngao “ cúc” ( giai đoạn 2) đạt khối lượng 800 - 1.000 con/kg thì san thả xuống vùng bãi sâu hơn và mật độ thả thưa hơn (giai đoạn 3), sau 10-12 tháng thành Ngao thịt có khối lượng 30-60 con/kg là thu hoạch.

    - Chọn giống và mật độ thả: Không thả giống đã bị há vỏ và có mùi ươn, loại giống đạt 800-1.000 con/kg thả 3.500 -  3.600kg/ha, loại  đạt 3.000 - 4.000 con/kg thả 900 đến 1.000 kg/ha.

    - Thời gian thả giống khoảng tháng 1, 2 và tháng 11, 12.

    - Chăm sóc và quản lý: công việc chủ yếu là kiểm tra hệ thống lưới, dây bảo vệ để sửa chữa kịp thời và cào vén, san thưa. Việc cào vén, san thưa rất quan trọng khi phát hiện Ngao tập trung mật độ cao dọc theo rìa lưới chắn hoặc một vùng nào đó trong vây nuôi, tuy nhiên chỉ thực hiện khi cần thiết. Khi chuyển mùa, nhiệt độ cao, mưa nhiều, có sương muối phải kiểm tra tình trạng sức khoẻ của Ngao nuôi.

    - Thu hoạch và bảo quản: thu hoạch Ngao có thể quanh năm, song vào mùa xuân, mùa thu dễ bảo quản. Dùng phương pháp xới lật Ngao lên lưới và xối nước thu Ngao. Sản phẩm thu hoạch cần đóng bao ngay, giữ ở nơi râm mát, tránh bị nắng, mưa. Trước khi đưa đi tiêu thụ phải nuôi lưu, loại bỏ những con mở  vỏ, có mùi ươn để đảm bảo chất lượng thương phẩm./. 

                                                           Cao Thị Nga - Phòng Nuôi trồng Thủy sản