Nuôi thử nghiệm cá hồng mỹ ở vùng biển Giao Thủy- Nam Định
8:21' 16/7/2012


    Tỉnh Nam Định có 15.576ha NTTS trong đó diện tích nuôi mặn, lợ  6.144ha, nuôi nước ngọt 9.432ha. Trong những năm gần đây phong trào nuôi trồng thủy sản của tỉnh phát triển mạnh, con tôm vẫn được coi là đối tượng nuôi chủ lực, nhiều hộ đã đầu tư nuôi công nghiệp thu được hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, từ năm 2007 đến nay do biến đổi khí hậu thời tiết diễn biến phức tạp, môi trường biến động, hàng năm diễn biến độ mặn ở các vùng nuôi biến đổi nhiều, dịch bệnh thường xuyên xảy ra gây ra không ít khó khăn cho người nuôi tôm nơi đây.  Trước tình hình đó, việc lựa chọn, bổ sung các đối tượng nuôi có khả năng thích nghi cao với biến động của môi trường, đáp ứng yêu cầu  phát triển bền vững của nghề nuôi trồng thủy sản và thị trường là việc làm cần thiết. Bên cạnh các đối tượng như cá song, cá vược, cá bống bớp..., cá hồng mỹ cũng là đối tượng nuôi đáng được quan tâm trong thời gian tới. Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Nam Định xin giới thiệu quy trình kỹ thuật nuôi cá hồng mỹ thương phẩm như sau:

    Cá Hồng Mỹ có tên khoa học là Sciaenops ocellatus là loài cá có kích thước cá thể lớn, tốc độ sinh trưởng nhanh, thịt thơm ngon nên được nhiều người rất ưa dùng. Trong tự nhiên cá Hồng Mỹ sống thành đàn, phạm vi phân bố rộng, khi trưởng thành thường di cư đến vùng cửa sông và vùng biển nông để sinh sản. Cá có thể sống trong nước ngọt, nước lợ, nước mặn, nhưng thích hợp nhất vẫn là nước lợ và nước mặn, được nuôi nhiều ở Nam Mỹ.

    Năm 1999 lần đầu tiên cá bột được nhập về Việt Nam và đến năm 2003 Trạm nghiên cứu Thủy sản nước lợ - Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I đã sản xuất giống thành công, đáp ứng được phần lớn nhu cầu con giống phục vụ nuôi nội địa. Năm 2005 – 2007, tại Quảng Ninh đã nuôi thương phẩm loài cá này trong ao đất. Hiện nay nó cũng là một trong những đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao đang được thị trường rất ưa chuộng.

    Kỹ thuật nuôi cá Hồng Mỹ trong ao đất

    Có nhiều hình thức nuôi cá Hồng Mỹ trong ao đầm nước lợ. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu hình thức nuôi phổ biến: Nuôi đơn cá Hồng Mỹ trong ao. Đây là hình thức trong ao nuôi chỉ thả giống một đối tượng là cá Hồng Mỹ. Nguồn thức ăn hoàn toàn phụ thuộc vào việc cho ăn

    1. Tiêu chuẩn về lựa chọn địa điểm nuôi

    Nguồn nước: Gần nơi có nguồn nước tốt và có thể cung cấp vào ao quanh năm với yêu cầu về thủy lý, thủy hóa như sau:

    PH:             7,5 – 8,5                       DO:             4 – 9 mg/L

    Độ mặn:      5 - 30‰                       Nhiệt độ:     26 – 32 độ C

    NH3:           < 1 mg/L                        H2S:            < 0,3 mg/L

    Độ đục:       < 10 mg/L

    - Chất đất: Mọi nền đáy đều có thể nuôi được cá Hồng Mỹ, tuy nhiên nền đáy là cát, bùn pha cát hoặc đáy cứng, cát sỏi thì tốt hơn. pH đáy ao 5,5 – 6,0 lượng mùn bã hữu cơ, trầm tích hữu cơ thấp. Không có hoặc có ở hàm lượng rất thấp các ion kim loại nặng như Sắt, Kẽm, Chì… Nền đáy không bị rò rỉ, thẩm lậu.

    - Địa hình và giao thông: Giao thông thuận lợi, gần nơi có thể cung cấp thức ăn, lao đông và thị trường tiêu thụ sản phẩm tốt.

    2. Thiết kế xây dựng ao

    - Hình dạng ao nuôi: Ao nuôi có hình chữ nhật để thuận tiện trong việc tạo dòng chảy luân chuyển nước qua các ao xử lý sinh học. Có thể tận dụng các ao nuôi tôm để nuôi cá cũng tốt. Ao nuôi nên nằm giữa mương cấp và mương thoát. Nếu các ao nuôi được bố trí gần khu vực trồng rong biển thì rất tốt cho việc quay vòng nước theo hệ thống khép kín.

    - Diện tích: Ao nhỏ dễ quản lý nhưng chi phí xây dựng cao. Xây dựng ao có diện tích 0,5 – 1,0 ha là phù hợp nhất.

    - Độ sâu của ao: 1,5 – 2,0 m (mức nước 1,2 – 1,5 m)

    - Đáy ao: Đáy ao có vai trò quan trọng trong đời sống của tôm, cá. Khi đáy ao có độ phèn cao, vật chất hữu cơ nhiều hoặc những vùng đất mới được đưa vào sử dụng từ rừng sú vẹt… thì nên dùng một số vật liệu gia cố đáy ao để hạn chế bớt khả năng sinh khí độc và một số chất hữu cơ lơ lửng xuất phát từ đáy ao.

    Đáy ao cần cao hơn đáy mương để đảm bảo nước trong ao được rút cạn tối đa.

    - Bờ ao: cao hơn mức nước thủy triều cao nhất từ 30 – 50 cm. Khi đắp phải chọn chất đất tốt, đầm nén chống rò rỉ và có lõi chống thấm bằng đất sét. Hệ số mái bờ 1/1,5 hoặc 1/1 (nếu chất đất tốt). Mặt bờ ao đủ rộng thuận tiện cho viêc đi lại và vận chuyển thức ăn, thiết bị… Để chống thẩm lậu nước ao có thể gia cố thêm bờ ao bằng nilon hoặc bạt ghép ghim sâu xuống đáy ao 60 – 100 cm hoặc cũng có thể kè bờ ao tùy độ kết dính của chất đất.

    - Hệ thống mương, cống cấp và cống thoát

    + Mương cấp nước: Mương cấp nước được coi là hồ chứa cung cấp cho trang trại vì thế diện tích mương cấp nước phải rộng đủ để đảm bảo lượng nước cho ao nuôi. Cao trình của đáy mương cấp nước cao hơn đáy ao là tốt nhất.

    + Mương thoát nước: cao trình của đáy mương thoát nước phải thấp hơn đáy ao nuôi để việc tháo nước thuận tiện nhanh chóng. Chiều rộng mương đủ lớn để đảm bảo tháo cạn nước ao trong vòng 5 – 8 tiếng. 
    + Cống cấp nước: Có khẩu độ 50 – 70 cm tùy thuộc diện tích ao nuôi, đảm bảo có thể cấp nước cho ao nuôi trong vòng 5 – 7 giờ, nên có hệ thống cánh phai để thuận tiện cho việc điều hành nước cấp. Cao trình đáy cống cấp cao hơn đáy ao nuôi.

    + Cống thoát nước: Cao trình đáy cống sát đáy ao nuôi. Nếu ao nuôi có cống xi-phông chất thải ở giữa ao thì cao trình đáy cống ngang với mặt đáy ao khu vực ven bờ. Nên xây dựng dạng cống nhiều phai để có thể chủ động thoát nước ở các tầng nước khác nhau.

    3. Chuẩn bị ao nuôi

    Nền đáy ao sạch hay bẩn tác động đến nơi phân bố thức ăn, khả năng bắt mồi của cá đồng thời tác động đến sự ổn định của môi trường nước.

    - Đối với ao mới đào: Sau khi xây dựng cần rửa chua 3 – 5 lần, rải vôi khắp đáy, phơi từ 10 – 20 ngày trước khi gây màu nước để thả cá, lượng vôi bón vào ao phụ thuộc vào độ pH của đáy ao:

          pH đất 6,0 – 7,0 dùng 300 – 625 kg/ha

          pH đât 4,5 – 6,0 dùng 625 – 1.000 kg/ha

          pH đất 3,0 – 4,5 dùng 1.000 – 1.800 kg/ha

    - Đối với ao cũ: Do sau mỗi lần nuôi, đáy ao tích tụ nhiều vật chất hữu cơ nên trước khi thả cá đợt nuôi tiếp theo cần phải xử lý đáy như sau:

    + Trồng rong biển luân phiên giữa các vụ nuôi cá. Trước khi nuôi cá bón 200 – 300 kg vôi/ha

    + Nếu lớp bùn thối dày ≥ 15 cm thì nạo vét loại bỏ lớp đất trên của đáy ao bằng cơ giới hoặc thủ công tùy điều kiện, bón vôi với lượng từ 190 – 230 kg/a rồi phơi 10 – 15 ngày.

    + Nếu lớp bùn thối dày 5 – 15 cm thì sau khi nạo vét lớp bùn ở trên, rải vôi với lượng từ 125 – 190 kg/ha, cày lật đất và phơi khô để phân hủy hết lớp bùn thối còn lại

    - Các loại vôi và tác dụng:

    - Sử dụng Chế phẩm sinh học trong cải tạo ao có tác dụng phân hủy nhanh chóng các chất hữu cơ, xác chết động vật tồn động ở đáy ao từ đó hạn chế các vi sinh vật gây bệnh.

    - Các bước cải tạo ao được tiến hành như sau: Tháo cạn nước à dọn tạp tu sửa bờ ao và đáy ao à dọn đáy ao à phơi ao à Diệt cá tạp bằng Saponin (15 g/m3) hay Rotenon (4 – 5 g/m3­) à xử lý nước à cấp nước

    4. Thả giống: Mật độ thả giống: 10.000 – 15.000 con/ha. Cỡ cá giống đưa vào nuôi thương phẩm từ 100 – 150 g/con là phù hợp. Cá hương sau khi xuất bể nên ương trong các ao nhỏ cho đến khi đạt kích thước trên thì mới chuyển sang ao nuôi thương phẩm.

    5. Thức ăn và cách cho ăn

    - Thức ăn là các loại cá tạp băm nhỏ theo yêu cầu của từng giai đoạn nuôi.

    + Cá giống đến 2 tháng tuổi: ngày cho ăn 3 lần vào sáng, trưa và chiều, lượng cho ăn 10% khối lượng đàn cá trong ao.

    + Cá hơn 2 tháng tuổi: cho ăn 2 lần/ngày vào sáng và chiều, lượng cho ăn 5% khối lượng đàn cá trong ao.

    - Nên tập cho cá ăn thức ăn công nghiệp (dạng viên nổi) – đây là một giải pháp rất khoa học vừa hạn chế ô nhiễm ao, tránh lãng phí, đồng thời chất lượng thức ăn cũng rất đảm bảo:

    + Giai đoạn 2 – 3 tháng đầu, tập cho cá ăn thức ăn công nghiệp vừa kích cỡ mồi của cá và có độ đạm 45 – 50%

    + Giai đoạn 3 – 5 tháng, cho ăn thức ăn có 40% độ đạm

    + Giai đoạn 5 – 7 tháng trở đi, cho ăn thức ăn có 35% độ đạm

    Ban đầu khi cho ăn thức ăn công nghiệp cá sẽ ít ăn thậm trí không ăn vì vậy cần tập từ từ cho cá ăn ít một rồi tăng dần lượng ăn theo thời gian.  Khi cá đã ăn quen thì cá có thể ăn hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp.

    - Trong quá trình cho ăn nên kết hợp thức ăn chế biến, sẽ thuận lợi hơn trong việc chủ động nguồn thức ăn. Chúng ta có thế tự chế biến thức ăn theo công thức như sau:

Thành phần

Hàm lượng (%)

Thành phần

Hàm lượng (%)

1. Bột cá

55

5. Khoáng

1

2. Đỗ tương

10

6. Vitamin tổng hợp

0,2

3. Bột mỳ

12

7. Mỡ/dầu

2

4. Cám

10

8. Chất kết dính

9,8

    Những thành phần này được xay nhuyễn trộn lẫn với nhau rồi đùn qua máy đùn có kích thước phù hợp với cỡ mồi của cá trong ao nuôi. Thức ăn tự chế biến nên cho ăn bằng sàng ăn để kiểm soát lượng thức ăn dư thừa, hạn chế ô nhiễm môi trường ao nuôi. Có thế cho ăn trực tiếp hoặc hong khô thức ăn, bảo quản và cho ăn dần.

    Trong quá trình cho ăn nên tập cho cá có phản xạ ăn đúng giờ ở một  hoặc vài điểm cố định trong ao, đồng thời tạo tiếng động khi cho ăn.

    6. Quản lý ao

    - Duy trì độ sâu của nước trong ao ở mức từ 1,0 – 1,5 m trong suốt chu kỳ nuôi

    - Luân chuyển nước trong ao hoặc quay vòng nước qua hệ thống ao trông rong biển để tăng oxy và giảm thiểu mức độ ô nhiễm.

    - Thay nước mới theo định kỳ (1 tháng/lần), mỗi lần thay không quá 30% để tránh gây sốc cho cá.

    - Quan sát, đó các chỉ tiêu hóa lý theo định kỳ hàng ngày.

    - Kiểm tra dịch bệnh và đánh giá tình trạng sức khỏe của cá theo định kỳ.

    - Hàng tháng kiểm tra tình trạng sinh trưởng của cá để định lượng thức ăn.

    - Bổ sung chế phẩm sinh học định kỳ

    - Té vôi định kỳ 1 – 2 lần/tháng liều lượng 2 – 3 kg/100 m2. Ngoài ra, cần té vôi trước hoặc ngay sau cơn mưa lên mặt ao và trên bờ ao.

    7. Thu hoạch

    Thời điểm phụ thuộc rất lớn vào thị trường tiêu thụ cá thương phẩm. Thông thường nuôi thương phẩm cá Hồng Mỹ chỉ nên kéo dài 10 – 12 tháng sẽ rất thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm tươi sống. Nếu nuôi 7 – 8 tháng đạt trọng lượng ≥ 0,5 kg/con

                                 Đinh Văn Điện- TTKNKN Nam Định